Thông tin bổ ích

VỊ TRÍ CỦA TRỤ SỞ CHÍNH HOẶC VĂN PHÒNG SỬ DỤNG TRONG ĐƠN XIN CẤP VISA QUẢN LÝ KINH DOANH TẠI NHẬT BẢN Ở ĐÂU?

Trong bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu và giải thích cho bạn về nơi đặt trụ sở chính hoặc văn phòng sử dụng trong đơn xin cấp visa quản lý kinh doanh (hay còn gọi là visa quản lý đầu tư).

Đôi khi, chúng tôi có cơ hội nhận được từ các khách hàng những câu hỏi như “Liệu chúng tôi có thể sử dụng văn phòng ảo (hoặc cho vay địa chỉ) làm vị trí của trụ sở chính của công ty, vào thời điểm chúng tôi xin visa quản lý kinh doanh (hoặc visa quản lý đầu tư) không? “hoặc” Có phải văn phòng tại gia được chấp nhận trong thời gian chúng tôi nộp đơn xin visa quản lý kinh doanh (hoặc visa quản lý đầu tư) không? ”

434

Tuy nhiên, chắc chắn một điều rằng các văn phòng ảo (hoặc cho vay địa chỉ) và văn phòng tại gia là những vấn đề mà Cục Quản lý xuất nhập cảnh có thẩm quyền không thể tránh khỏi khi cẩn trọng đánh giá trong quá trình kiểm tra tính liên tục và ổn định của doanh nghiệp . Và trong bài viết này, chúng tôi sẽ bình luận về địa điểm trụ sở chính và văn phòng làm việc của công ty cổ phần tại Nhật Bản khi các doanh nghiệp nước ngoài xin visa quản lý kinh doanh (hoặc visa quản lý đầu tư) .

  1. Yêu cầu làm rõ tiêu chuẩn về tình trạng nhập cư của doanh nhân người nước ngoài

Trường hợp đánh giá về vị trí trụ sở chính hoặc trụ sở của công ty trong quá trình xin cấp visa quản lý kinh doanh (hoặc visa quản lý đầu tư), bài báo có tiêu đề “Về việc làm rõ tiêu chuẩn về nơi cư trú của Doanh nhân người nước ngoài “(Cục Nhập cư, Bộ Tư pháp; tháng 8 năm 2005) sẽ là một trong những hướng dẫn cho mục đích đó.

Trong bài viết này, một số hướng dẫn được chỉ ra liên quan đến yêu cầu “Đối với các cơ sở được sử dụng như một nơi để hoạt động kinh doanh ở Nhật Bản được bảo đảm ở Nhật” hoặc “Đối với các cơ sở sẽ được sử dụng làm địa điểm kinh doanh với mục đích kinh doanh để tồn tại ở Nhật Bản “.

  1. “Bảo đảm/ Dự trữ một địa điểm kinh doanh” có nghĩa là gì?

Như một vài ví dụ điển hình đã từng được chúng tôi đưa ra thảo luận, có rất nhiều trường hợp mà các công ty nước ngoài kiến tạo ra những dự án kinh doanh mạo hiểm, thường bắt đầu với ngành Công Nghệ Thông Tin. Họ dùng các văn phòng ươm tạo và thực hiện những hoạt động kinh doanh của mình bằng cách thiết lập các cơ sở mà họ còn sử dụng để ở. Thực tế thì, quy mô của những hoạt động kinh doanh này không lớn ở những bước kết hợp đầu tiên, và công ty có thể được chạy bởi một số lượng nhân sự khá ít, và các nhân sự dễ dàng kết hợp nhịp nhàng.

8434

Hiện nay, trong Phần 2 của văn bản Các nguyên tắc chung cho Phân loại các ngành Công nghiệp Tiêu chuẩn Nhật Bản do Bộ Nội vụ và Truyền thông quy định, từ “địa điểm kinh doanh” được định nghĩa như sau:

  • Đối với bất kỳ hoạt động kinh tế nào đang được thực hiện dưới sự quản lý đơn lẻ bằng cách sở hữu một khu vực nhất định, tức là một bộ phận (1); và
  • Đối với sản xuất, cung ứng hàng hoá, dịch vụ liên tục có nhân viên, cơ sở cố định.

Nếu và trong trường hợp 2 điều kiện ở trên được đáp ứng, bản đề xuất “Địa điểm kinh doanh được bảo đảm (tồn tại)” được kì vọng sẽ được thông qua. Tuy nhiên, với các hoạt động kinh doanh diễn ra theo thị thực quản lý kinh doanh (hoặc thị thực quản lý đầu tư) không được phép sử dụng địa điểm đối với hợp đồng cho thuê ngắn hạn, tức thời hạn 3 tháng hoặc ít hơn do việc kinh doanh phải đáp ứng được tính liên tục và ổn định.

Vì vậy, nếu và trong trường hợp khi cái gọi là văn phòng ảo, cho thuê địa chỉ, không gian làm việc chung, căn hộ thuê theo tuần, căn hộ thuê theo tháng,… được sử dụng làm văn phòng của doanh nghiệp, các yêu cầu cho quá trình xét cấp thị thực quản lý kinh doanh (hoặc thị thực quản lý đầu tư) được đánh giá là chưa thể đáp ứng.

Hơn nữa, nếu và trong trường hợp sử dụng gian hàng và những địa điểm mà sẽ dễ dàng được sử dụng, thì yêu cầu về thủ tục kiểm tra đối với thị thực quản lý kinh doanh (hoặc thị thực quản lý đầu tư) cũng được coi là chưa thể đáp ứng.

  1. Các điểm cần chú ý trong quá trình thanh toán hợp đồng thuê địa điểm kinh doanh

Với một số ngoại lệ đối những nhà đầu tư ngoại quốc giàu có và các doanh nghiệp lớn nước ngoài, thì việc những người nước ngoài và các tập đoàn nước ngoài bắt đầu kinh doanh tại Nhật Bản đi thuê địa điểm kinh doanh là khá phổ biến. Trong những trường hợp như vậy, cần chú ý đến việc thi hành hợp đồng thuê địa điểm khi giao kèo, khế ước.

3232

Trước tiên, trong hợp đồng cho thuê liên quan đến tài sản cho thuê, cần phải rõ ràng và cụ thể bằng văn bản như “cho mục đích kinh doanh”, “dùng trong cửa hàng” hoặc “dùng trong văn phòng”. Bên cạnh đó, đối với bên ký kết hợp đồng thuê, cần phải ký hợp đồng với tên của công ty Nhật Bản, vv và đối với tài sản cho thuê do công ty Nhật Bản sử dụng và vv

Trước tiên, trong hợp đồng cho thuê liên quan đến tài sản cho thuê, cần phải viết rõ ràng và cụ thể các mục như: “cho mục đích kinh doanh”, “dùng làm cửa hàng” hoặc “dùng làm văn phòng”. Bên cạnh đó, đối với bên cho thuê, hợp đồng cần phải được thực thi dưới tên của công ty Nhật Bản…, và tài sản cho thuê cũng phải được sử dụng bởi công ty Nhật Bản…

Nếu và trong trường hợp việc kinh doanh được vận hành bằng việc sử dụng một phần tài sản cho thuê là nhà cư trú để làm trụ sở văn phòng thì phải đảm bảo các điều kiện sau đây:

  • Các điều kiện cần phải được đáp ứng đối với bên cho thuê:

Với bên cho thuê, phải đồng ý với các phương thức sử dụng tài sản khác với thuê cư trú, nói cách khác, bên cho thuê phải đồng ý tài sản sẽ được cho thuê lại với mục đích để làm địa điểm kinh doanh giữa bên đi thuê và pháp nhân Nhật Bản…

  • Các điều kiện cần phải được đáp đối với bên đi thuê:

Với pháp nhân Nhật Bản và đơn vị tương tự phải cho phép tài sản được sử dụng với mục đích làm địa điểm kinh doanh; và

  • Các điều kiện khác:

Với pháp nhân Nhật Bản và các đơn vị tương tự sở hữu không gian dành cho mục đích kinh doanh, phải trang bị đầy đủ các trang thiết bị cần thiết cho doanh nghiệp.

Với các thỏa thuận đã được chấp thuận về phương diện thanh toán các khoản “chi phí sử dụng chung”, như là phí dịch vụ công cần thiết cho tài sản kể trên, cần phải được xác định rõ ràng, và

Với tất cả những biển hiệu tương tự như biển chỉ dẫn, cần phải được treo lên.

  1. Về việc quản lý Văn phòng Ươm tạo

Trường hợp bất kì nhóm hoặc tổ chức nào cung cấp dịch vụ tư vấn chinh sách quản lý cho các doanh nghiệp liên doanh hoặc trung gian với các dịch vụ kinh doanh đó,… nếu cần thiết đối với bất cứ hoạt động doanh nghiệp nào, thì cái gọi là vườn ươm sẽ hỗ trợ việc kinh doanh. Nếu và khi người nộp đơn xin cấp thị thực quản lý kinh doanh (hoặc thị thực quản lý đầu tư) đã nộp văn bản chấp thuận việc sử dụng địa điểm kinh doanh, địa chỉ tạm thời của địa điểm kinh doanh sẽ được xác định bởi (Cơ quan Hành chính độc lập) Tổ chức Thương mại Đối ngoại Nhật Bản (JETRO) hoặc Trung tâm Hỗ trợ Doanh nghiệp Đầu tư Nhật Bản (IBSC) và bất kỳ Văn phòng ươm tạo doanh nghiệp nào khác… Nếu văn phòng của công ty đang được tạm thời thuê với mục đich ươm tạo, có thể được coi là đáp ứng các yêu cầu của việc “Bảo đảm/ Dự trữ một địa điểm kinh doanh”.

5432

Trong tất cả các văn bản kể trên, mặc dù rất khó để có một văn phòng ảo, hoặc cho thuê địa chỉ, hoặc không gian làm việc chung, căn hộ thuê theo tuần, ca hộ thuê theo tháng… để đáp ứng các điều kiện của “Bảo đảm/ Dự trữ một địa điểm kinh doanh”, chúng ta có thể hiểu rẳng các văn phòng ươm tạo kể trên có thể thỏa mãn những yêu cầu này. Hơn nữa, nói về văn phòng cho thuê cung cấp bởi Serve Co-op và Lee JAS và các bên tương tự, vì phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể, cá nhân tôi không thể đơn thuần nói về những sự sắp xếp này, nhưng tôi nghi ngờ sẽ có trường hợp mà văn phòng thỏa mãn điều kiện của “Bảo đảm/ Dự trữ một địa điểm kinh doanh”.

  1. Trường hợp các địa điểm kinh doanh đã được coi là đã được bảo đảm

Một vài trường hợp điển hình được xuất bản trong bài viết có tựa đề “Về vấn đề làm rõ các tiêu chuẩn về tình trạng nhập cư của các nhà đầu tư nước ngoài” (ban hành vào tháng 8 năm 2005, bởi Bộ Tư pháp – Cục Quản lý xuất nhập cảnh). Ở đây, tôi muốn đề cập đến và giới thiệu các trường hợp điển hình như sau:

332

Ví dụ 1: Trường hợp văn phòng của một nhà hàng là văn phòng tại gia:

Để điều hành một nhà hàng tư nhân tại Nhật Bản, A đã nộp đơn xin sửa đổi tình trạng nhập cư. Mặc dù mục đích sử dụng tài sản là văn phòng mới, được mô tả trong hợp đồng cho thuê là “nơi ở”, nhưng do thực hiện hợp đồng đặc biệt với bên cho thuê mà theo đó tài sản đó được sử dụng cho “văn phòng của công ty”, địa điểm kinh doanh là được coi là đã được bảo đảm / bảo lưu.

Ví dụ 2: Trường hợp tài sản đã được văn phòng chi nhánh thuê:

Với mục đích để nhập khẩu và xuất khẩu các sản phẩm hàng hải và kinh doanh, chế biến sản phẩm đó tại Nhật Bản, B đã làm đơn xin cấp Giấy chứng nhận Đủ điều kiện Tình trạng thường trú, và mặt khác, mặc dù trụ sở chính là nhà ở của một nhân viên của công ty, nhưng do thực tế là tiền thuê đã được sắp xếp dưới tên của văn phòng chi nhánh như một tài sản thuộc sở hữu của hiệp hội thương mại và công nghiệp, nơi kinh doanh được coi là đã được bảo đảm / bảo lưu.

Ví dụ 3: Trường hợp mỗi công ty và văn phòng có lối vào riêng tại cùng một địa điểm:

Để thành lập một công ty cổ phần và thực hiện hoạt động kinh doanh, C làm đơn xin cấp Giấy chứng nhận Đủ điều kiện Tình trạng thường trú. Các lối vào văn phòng công ty và khu vực cư trú đã được tách riêng, và một biển hiệu ghi tên công ty đã được đặt tại lối vào văn phòng. Hơn nữa, doanh nghiệp được khẳng định là đã được vận hành và các thiết bị văn phòng như máy tính cá nhân, máy điện thoại, bàn làm việc, máy photocopy … đã được trang bị. Và sau đó địa điểm kinh doanh được coi là đã được bảo đảm.

  1. Trường hợp các địa điểm kinh doanh không được coi là được bảo đảm

Ví dụ 1: Trường hợp phần văn phòng tại cơ quan kiêm nhiệm được coi là không có cơ sở vật chất:

Để thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn và thực hiện hoạt động kinh doanh, D đã làm đơn xin phép gia hạn thời gian lưu trú.

Khi được kiểm tra, văn phòng được cho là nhà riêng của D không có dấu hiệu rõ ràng cho thấy sự tồn tại của địa điểm kinh doanh. Không có biển chỉ dẫn địa điểm được đặt ở hộp thư ở lối vào, không có dụng cụ và thiết bị cần thiết cho hoạt động kinh doanh, không có bảng lương và bảng chấm công, thứ duy nhất có trong phòng là những vật dụng sống hàng ngày, do đó nơi kinh doanh không được coi là đã được bảo đảm.

00003

Ví dụ 2: Trường hợp phần dùng làm văn phòng tại văn phòng tại gia được coi là không có cơ sở vật chất:

Để thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn và điều hành một đại lý bán hàng tại Nhật Bản, E đã nộp đơn xin cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện để có tư cách lưu trú.

Căn cứ vào các tài liệu đã gửi, một cuộc kiểm tra đã được tiến hành vì địa điểm kinh doanh được cho là nhà ở. Địa điểm là một tòa nhà 2 tầng, không có bảng tên của công ty trên hộp thư ở lối vào, không có máy móc văn phòng được cài đặt, và chỉ có đồ nội thất cũng như các vật dụng sinh hoạt hàng ngày. Vì vậy, nơi kinh doanh không được coi là đã được bảo đảm.

Ví dụ 3: Trường hợp văn phòng là nhà ở được thuê dưới tên một nhân viên, và được coi là không có cơ sở vật chất:

Để thành lập một công ty trách nhiệm hữu hạn và điều hành một công ty thiết kế tại Nhật Bản, F đã làm đơn xin phép sửa đổi tình trạng nhập cư.

Căn cứ vào các tài liệu được nộp, địa điểm hoặc tòa nhà không được giữ dưới tên của pháp nhân hoặc dưới tên của doanh nhân, nhưng lại được sử dụng dưới tên của một nhân viên để làm nơi cư trú, và các hóa đơn sưởi ấm, đèn điện cũng được thanh toán dưới tên của nhân viên ấy. Không có bất cứ tài liệu nào từ phía bên cho thuê chứng minh được rằng tài sản đó được sử dụng cho mục đích khác cư trú. Và vì vậy, nơi kinh doanh không được coi là đã được bảo đảm.

One thought on “VỊ TRÍ CỦA TRỤ SỞ CHÍNH HOẶC VĂN PHÒNG SỬ DỤNG TRONG ĐƠN XIN CẤP VISA QUẢN LÝ KINH DOANH TẠI NHẬT BẢN Ở ĐÂU?

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.